Biên soạn: Luật sư Phạm Văn Duẩn, theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15). Bài viết giải đáp đơn đề nghị giám đốc thẩm và tái thẩm: cơ hội cuối để xem xét lại bản án sau khi đã có hiệu lực pháp luật.
Nhiều người nghĩ rằng khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, không còn cách nào để yêu cầu xem xét lại, dù phát hiện sai sót rõ ràng. Thực tế, pháp luật vẫn còn hai cơ chế đặc biệt là giám đốc thẩm và tái thẩm. Để được tư vấn khả năng áp dụng cho vụ việc cụ thể, có thể gọi hotline 0907 399 266.
Giám đốc thẩm là gì, căn cứ để kháng nghị
Theo Điều 326 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm gồm:
kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.
Thời hạn đề nghị giám đốc thẩm: 3 năm
Theo Điều 327 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, người có quyền đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền gửi đơn đề nghị bằng văn bản đến người có quyền kháng nghị trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Người có quyền đề nghị không trực tiếp quyết định việc kháng nghị, mà phải thông qua người có thẩm quyền kháng nghị (Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cấp tương ứng theo phân cấp).
Tái thẩm: khác giám đốc thẩm ở điểm nào
Theo Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó.
Khác với giám đốc thẩm (dựa trên vi phạm pháp luật trong xét xử), tái thẩm dựa trên tình tiết mới phát sinh hoặc mới được phát hiện, ví dụ phát hiện chứng cứ giả mạo, người làm chứng khai gian dối ảnh hưởng đến bản chất vụ án.

Thời hạn kháng nghị tái thẩm: 1 năm kể từ ngày phát hiện tình tiết mới
Theo Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 1 năm, kể từ ngày người có quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Đây là điểm khác biệt quan trọng so với giám đốc thẩm (3 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực), vì thời hạn tái thẩm tính từ ngày phát hiện tình tiết mới, không phải từ ngày bản án có hiệu lực.
Một tình huống thực tiễn (minh họa)
Giả định: Tình huống dưới đây được xây dựng để minh họa cách áp dụng pháp luật, không phải vụ việc cụ thể đã xảy ra.
Bản án tranh chấp đất đai có hiệu lực từ năm 2022, dựa trên lời khai của một người làm chứng khẳng định mốc giới cũ. Năm 2025, phát hiện người làm chứng này đã khai gian dối, có bằng chứng mới (hồ sơ địa chính gốc) cho thấy mốc giới thực tế khác với lời khai. Đây là tình tiết mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, đương sự có quyền gửi đơn đề nghị tái thẩm trong thời hạn 1 năm kể từ ngày phát hiện tình tiết mới này.
Rủi ro cần lường trước khi đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm
- Đơn đề nghị chỉ là bước đầu, người có quyền đề nghị không tự quyết định việc kháng nghị, phải chờ người có thẩm quyền xem xét.
- Không phải mọi sai sót trong bản án đều đủ căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm, phải là vi phạm nghiêm trọng hoặc sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật.
- Bỏ lỡ thời hạn 3 năm (giám đốc thẩm) hoặc 1 năm kể từ ngày phát hiện tình tiết mới (tái thẩm) sẽ mất quyền đề nghị.
- Cần có chứng cứ, tài liệu cụ thể chứng minh căn cứ kháng nghị, không chỉ dựa trên cảm nhận chủ quan về việc bản án chưa công bằng.
Căn cứ pháp lý áp dụng
Điều 326, 327, 352, 355 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung theo Luật số 85/2025/QH15). Tham khảo thêm giám đốc thẩm và tái thẩm trên Thư viện Pháp luật. Người đang gặp vướng mắc về kháng cáo bản án dân sự nên đọc thêm để hiểu rõ các cơ chế xem xét lại bản án ở từng giai đoạn.
Câu hỏi thường gặp về giám đốc thẩm và tái thẩm
Ai có quyền gửi đơn đề nghị giám đốc thẩm?
Đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Giám đốc thẩm và tái thẩm khác nhau ở điểm nào?
Giám đốc thẩm dựa trên vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử; tái thẩm dựa trên tình tiết mới được phát hiện mà Tòa án và đương sự không biết khi xét xử.
Thời hạn đề nghị giám đốc thẩm là bao lâu?
3 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật theo Điều 327 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Nguồn tham khảo
Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; Luật số 85/2025/QH15; Thư viện Pháp luật.
Bài viết do Luật sư Phạm Văn Duẩn biên soạn nhằm cung cấp thông tin pháp lý tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cụ thể cho từng vụ việc. Liên hệ hotline 0907 399 266 để được tư vấn trực tiếp.
1 bình luận về “Đơn Đề Nghị Giám Đốc Thẩm Và Tái Thẩm: Cơ Hội Cuối Sau Khi Bản Án Có Hiệu Lực”