Biên soạn: Luật sư Phạm Văn Duẩn, theo Luật Thương mại số 36/2005/QH11 (sửa đổi, bổ sung) và Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.
Nhiều doanh nghiệp khi soạn hợp đồng ghi mức phạt vi phạm 10%, 15%, thậm chí 20% giá trị hợp đồng để “dọa” đối tác thực hiện đúng tiến độ, nhưng đến khi xảy ra vi phạm thật thì điều khoản đó lại không áp dụng được đúng như mong đợi. Nếu doanh nghiệp đang gặp tranh chấp liên quan đến phạt vi phạm hợp đồng thương mại, có thể gọi hotline 0907 399 266 để luật sư rà soát điều khoản hợp đồng và tính đúng số tiền có thể yêu cầu.
Phạt vi phạm hợp đồng thương mại là gì, áp dụng khi nào
Theo Điều 300 Luật Thương mại 2005, phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng, nếu trong hợp đồng có thỏa thuận. Điểm then chốt là chữ “nếu có thỏa thuận”: khác với một số quan niệm phổ biến, pháp luật thương mại không tự động cho phép phạt vi phạm khi hợp đồng im lặng.
Nói cách khác, nếu hai bên ký hợp đồng mua bán hàng hóa nhưng không ghi điều khoản phạt vi phạm, bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế, không có quyền đòi tiền phạt. Vì vậy, khi soạn hợp đồng thương mại, doanh nghiệp cần ghi rõ: trường hợp nào bị coi là vi phạm, mức phạt cụ thể bao nhiêu phần trăm giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.
Mức phạt vi phạm tối đa: trần 8% theo Luật Thương mại
Điều 301 Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp dịch vụ giám định sai quy định tại Điều 266 (mức phạt riêng, tối đa 10 lần phí dịch vụ giám định).
Đây là khác biệt lớn so với hợp đồng dân sự thông thường: Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép các bên tự thỏa thuận mức phạt vi phạm mà không bị giới hạn trần, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Vì Luật Thương mại là luật chuyên ngành áp dụng cho hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ giữa các thương nhân, nên trần 8% là bắt buộc áp dụng, điều khoản ghi mức phạt cao hơn sẽ bị tòa án hoặc trọng tài tuyên vô hiệu phần vượt trần.
Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại: khác nhau thế nào, có được cộng cả hai
Điều 307 Luật Thương mại 2005 cho phép áp dụng đồng thời cả chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại, nếu trong hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm, trừ trường hợp luật này có quy định khác. Hai chế tài này có bản chất khác nhau nên không loại trừ nhau.
Phạt vi phạm là khoản tiền cố định theo tỷ lệ đã thỏa thuận, bên bị vi phạm không cần chứng minh mình có thiệt hại thực tế hay không, cứ có hành vi vi phạm đúng như mô tả trong hợp đồng là có quyền đòi. Bồi thường thiệt hại thì ngược lại:
theo Điều 302 Luật Thương mại 2005, bên yêu cầu bồi thường phải chứng minh tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm, bằng hóa đơn, chứng từ, báo cáo thiệt hại cụ thể, và không bị giới hạn mức 8%.

Lãi chậm thanh toán: tính thế nào khi bên mua chậm trả tiền
Riêng trường hợp bên mua chậm thanh toán tiền hàng, tiền dịch vụ, Điều 306 Luật Thương mại 2005 quy định bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác. Khoản lãi này được tính độc lập, song song với phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại nếu có.
Một tình huống thực tiễn (minh họa)
Giả định: Tình huống dưới đây được xây dựng để minh họa cách áp dụng pháp luật, không phải vụ việc cụ thể đã xảy ra.
Công ty X ký hợp đồng cung ứng nguyên liệu cho công ty Y, giá trị lô hàng 2 tỷ đồng, hợp đồng ghi điều khoản phạt vi phạm 5% giá trị lô hàng nếu giao chậm quá 7 ngày. Công ty X giao hàng chậm 20 ngày, công ty Y vừa yêu cầu phạt vi phạm 5% (100 triệu đồng), vừa yêu cầu bồi thường thêm 150 triệu đồng chi phí thuê kho tạm và mất đơn hàng từ khách hàng cuối do thiếu nguyên liệu, kèm chứng từ thuê kho và email khách hàng hủy đơn.
Vì hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm và công ty Y chứng minh được thiệt hại thực tế bằng chứng từ cụ thể, công ty Y có cơ sở đòi cả hai khoản theo Điều 307, miễn tổng mức phạt vi phạm không vượt 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm.
Rủi ro cần lường trước khi thỏa thuận phạt vi phạm trong hợp đồng thương mại
- Ghi mức phạt vượt 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm: phần vượt trần sẽ bị tuyên vô hiệu, dù hai bên đã ký đồng ý.
- Không ghi rõ đây là “phạt vi phạm” mà chỉ ghi mơ hồ dạng “bồi thường cố định”: dễ bị tòa án, trọng tài hiểu theo hướng khác, ảnh hưởng đến quyền đòi bồi thường thiệt hại bổ sung.
- Muốn đòi bồi thường thiệt hại ngoài phạt vi phạm phải có chứng từ chứng minh tổn thất thực tế, không thể chỉ ước lượng miệng.
- Lãi chậm trả tính theo lãi suất nợ quá hạn trung bình thị trường tại thời điểm thanh toán, không phải mức lãi suất cố định ghi sẵn trong hợp đồng nếu mức đó cao hơn bất hợp lý.
Căn cứ pháp lý áp dụng
Điều 300, 301, 302, 306, 307 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 (sửa đổi, bổ sung); Điều 418 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13. Tham khảo phân tích chuyên sâu về phạt vi phạm hợp đồng thương mại trên Thư viện Pháp luật. Doanh nghiệp đang xử lý tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nên đọc thêm bài phân tích hướng giải quyết khởi kiện tòa án hay trọng tài thương mại.
Câu hỏi thường gặp về phạt vi phạm hợp đồng thương mại
Hợp đồng không ghi điều khoản phạt vi phạm thì có đòi được tiền phạt không?
Không. Theo Điều 300 Luật Thương mại 2005, phạt vi phạm chỉ áp dụng khi hợp đồng có thỏa thuận trước, nếu không có thỏa thuận, bên bị vi phạm chỉ có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại thực tế đã chứng minh được.
Mức phạt vi phạm ghi trong hợp đồng cao hơn 8% có hiệu lực không?
Phần vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm sẽ không có hiệu lực, tòa án hoặc trọng tài sẽ chỉ tính mức phạt tối đa bằng 8% theo Điều 301 Luật Thương mại 2005.
Có thể vừa đòi phạt vi phạm vừa đòi bồi thường thiệt hại không?
Có, nếu hợp đồng có thỏa thuận phạt vi phạm, bên bị vi phạm được áp dụng đồng thời cả hai chế tài theo Điều 307 Luật Thương mại 2005, miễn chứng minh được thiệt hại thực tế cho phần bồi thường.
Nguồn tham khảo
Luật Thương mại số 36/2005/QH11; Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13; Thư viện Pháp luật.
Bài viết do Luật sư Phạm Văn Duẩn biên soạn nhằm cung cấp thông tin pháp lý tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn cụ thể cho từng vụ việc. Liên hệ hotline 0907 399 266 để được tư vấn trực tiếp.